Nhân vật võ thuật

Showing posts with label chia-se-vo-thuat. Show all posts
Showing posts with label chia-se-vo-thuat. Show all posts

Wednesday, September 19, 2018

Tìm hiểu một vài môn công phu thượng thừa

Nói đến những tuyệt kỹ võ thuật lưu truyền từ xưa tới nay, không thể không nhắc tới những công phu Nhất chỉ thiền, Thiết ngưu công, Châu sa chưởng… 


Những công phu âm độc hàng đầu 


Trong cuốn sách Phương pháp luyện ngạnh công và nhuyễn công của võ sư Hàng Thanh do nhà xuất bản Long An ấn hành năm 1990, Nhất chỉ thiền được liệt kê ở hàng đầu. Võ sư Hàng Thanh viết về nó: “ Nhất chỉ thiền là loại công phu âm độc rất nguy hiểm, luyện cho toàn lực tụ lại nơi một ngón tay. Khi hành công, kình phát ra, ngón tay chưa tới mà đối thủ đã bị thương trí mạng rồi. Do đó người chân chánh hiền đức ít ai chịu tập công phu sát nhân này, dù vậy khi luận về sự lợi hại thì Nhất chỉ thiền cũng được xếp hàng đầu”. 

Phương pháp luyện tập Nhất chỉ thiền không có gì bí mật thần kỳ. Tất cả gồm 3 giai đoạn có thể nhìn thấy rõ kết quả bằng mắt. 


Đầu tiên dùng một quả chuông nặng từ 10 đến 20 kg như loại chuông cỡ vừa dùng trong chùa. Lấy sợi dây treo lên sao cho thân chuông ngang với tầm tay với. Mỗi ngày, vào lúc sáng tinh sương và khi đêm tối thanh vắng là hai thời điểm rất thuận lợi để luyện tập. Người tập đứng trước chuông lập tấn. Sau đó dùng ngón tay trỏ điểm tới chuông, các ngón khác co lại. Lưu ý là việc điểm ra không được căng cứng tay hay cố sức đẩy chuông mà chỉ đưa tới như con rắn mổ tới mà thôi. 

Ban đầu, những cú điểm không làm xê dịch chuông nhưng cứ kiên trì rồi cũng làm được. Tập cho đến khi nào mà tay điểm chưa chạm tới chuông mà chuông đã rung thì coi như xong giai đoạn thứ nhất. 

Giai đoạn hai phải làm một phòng kín để tập. Cuối phòng đặt một cái bàn. Đến giờ tập, người tập vào phòng, thắp một cây nến đặt lên bàn rồi đứng ra xa mà hướng vào ngọn nến vung tay điểm tới. Sau một thời gian luyện tập, hễ tay vung ra là nến tắt phụt. Lúc đó thắp lên độ 4 ngọn nến rồi lần lượt điểm tới. Mỗi lần điểm tới làm tắt một ngọn thì giai đoạn 2 đã thành công. 

Cuối cùng dùng một cái chụp đèn bằng giấy chụp lên ngọn nến rồi cũng đứng xa tập điểm ngón tay hướng vào ngọn nến. Lúc đầu nến tắt mà giấy cũng rách. Kiên trì luyện tập để chỉ nến tắt mà giấy không rách. Thành công được việc đó thì thay chụp giấy bằng chụp thủy tinh rồi tiếp tục tập. 

Cho đến khi nào làm tắt nến bên trong chụp thủy tinh mà thủy tinh không hề gì thì công phu đã đại thành. Mặc dù vậy cho đến nay cũng chưa thấy ai biểu diễn công phu nhất chỉ thiền này. Đôi khi có báo chí đăng có người dùng ngón tay trỏ đâm xuyên gỗ, đá và gọi đó là Nhất dương chỉ theo tên trong tiểu thuyết võ hiệp. Nếu so kết quả đó với lý thuyết môn Nhất chỉ thiền này thì thành quả đó mới chỉ tương ứng với giai đoạn thứ nhất. 


Cùng một dạng như Nhất chỉ thiền, người luyện thành môn Châu sa chưởng khi thành công không cần phải đụng chạm vào người, chỉ cần đưa tay tới hướng địch đánh gió. Địch thủ không tránh né để chạm phải chưởng phong thì trúng đòn chí tử. Theo võ sư Hàng Thanh, người bị trúng phải châu sa chưởng, trong khoảng 10 ngày là chết mà không thể chữa trị. 

Cách luyện môn này cũng gồm mấy bước. Trước hết dùng một chậu đựng đầy cát nhuyễn đã lọc kỹ. Mỗi ngày 2 lần đưa 2 tay bốc cát lên xoa cho tới khi nào hai bàn tay mỏi nhừ mới thôi. Qua vài năm luyện tập, đến một ngày hai bàn tay xoa vào nhau phía trên mặt chậu mà cát trong chậu động đậy dậy lên thì đã thành công một giai đoạn. 

Tiếp theo thay loại cát to hơn và tiếp tục xoa cho đến khi cát to cũng cuộn lên thì được. Lại thay cát bằng mạt sắt và bi sắt nhỏ. Tới khi làm cho bi sắt cũng bị dậy lên mỗi lần xoa tay vào nhau thì công phu đại thành. Cũng như Nhất chỉ thiền, luyện môn công phu này phải mất hàng chục năm kiên trì luyện tập. Duy có điều, võ sư Hàng Thanh lưu ý là sau khi đã luyện thành thì bàn tay cũng chai cứng như sắt thép nên vô dụng, không thể làm được những việc khéo léo. Môn công phu này đến nay cũng chỉ còn lại danh tiếng, chưa có ai luyện thành. 

Thiết ngưu công 

Có lẽ đây là một trong số ít các môn tinh hoa võ thuật đời trước mà thời nay còn có một số người luyện thành công. Mục đích luyện môn này là khiến cho bụng cứng rắn để quyền cước đánh vào không đau, đao kiếm đâm chém không thủng. 

Nói đến môn này thì không cần dẫn ra tới thế giới hay nước ngoài, ngay tại Việt Nam ta cũng đã có nhiều người làm được. Nổi tiếng có võ sư Hà Châu từng cho xe lu 18 tấn cán qua người, võ sư Hàng Thanh cho đủ các loại xe tải cán qua bụng mà không cần lót gỗ vào những năm trước giải phóng ở miền Nam. 


Ở miền Bắc thì giới võ thuật vẫn truyền tai nhau về cố võ sư Trần Thúc Tiển ở môn phái Vĩnh Xuân quyền. Võ sư Tiển từng cho một vận động viên quyền anh đấm vào người hàng mấy trăm quả đến khi mệt không đấm được nữa thì thôi. Thời gian gần đây võ sư Nguyễn Ngọc Nội, một đệ tử của võ sư Tiển từng lên truyền hình cho khán giả xem ông đứng cho 3 học trò đấm hàng ngàn quả. Ba người thay nhau đấm đến khi mệt bở hơi tai mà ông vẫn điềm nhiên chuyện trò như không. Dĩ nhiên tác giả không biết được các võ sư nói trên luyện tập thế nào để đạt được trình độ ấy và tên gọi của công phu đó là gì. Tuy nhiên, cứ theo như kết quả được trình bày thì nó cũng tương tự như phép luyện Thiết ngưu công. 

Kết quả mỹ mãn nhiều người ao ước vậy song việc luyện tập Thiết ngưu công dễ dàng trong tầm tay và không đòi hỏi nhiều dụng cụ khó khăn. Hàng ngày người tập tụ khí vào bụng rồi đấm nhẹ vài lần. Đấm xong thì thở khí ra và chà xát bằng lòng bàn tay. Mỗi lần tập tụ khí vài lần. Ngày qua ngày tăng dần độ mạnh cú đấm lên. Đến khi tự mình đấm mạnh hết sức mà không thấy đau thì lấy búa gỗ rồi búa đinh gõ vào. 

Ban đầu cũng gõ nhẹ rồi mạnh dần. Cho đến khi tiếng gõ không còn bình bịch nữa mà nghe như tiếng sắt thép chạm nhau thì công lực đã thành tựu được 7, 8 phần rồi. Đến lúc này thì đêm ngủ đặt một tảng đá to lên bụng đến sáng hôm sau thức giấc mới bỏ xuống để luyện sức cầm cự lâu dài. Đến khi đặt khối đá lên bụng mà vẫn ngủ ngon thì công phu 10 phần đã thành công rồi đó. Lúc này dù có là người đấm hay binh khí đâm chém vào cũng không còn đáng sợ nữa. 

Thiết tưởng phương pháp luyện thiết ngưu công trình bày ở trên hoàn toàn có cơ sở dễ hiểu. Cứ mỗi ngày tác dụng lực vào người thì lâu dần sức chịu đựng được nâng cao lên. Luyện tập vài năm thì hoàn toàn có thể có khả năng chịu đựng để người ta đấm đá vào mà không đau đớn. 


Sunday, July 12, 2015

Cách luyện tập thiết sa chưởng


Thiết sa chưởngcó hai cách là luyện theo lối trực tiếp và gián tiếp, khi thành công hiệu quả không chênh lệch đi bao nhiêu.

Duy lối luyện trực tiếp thì bàn tay cứng như thép đúc, trông thấy phát sợ liền, còn luyện theo lối gián tiếp thì bàn tay vẫn mềm mại mà khi phát lực thì còn cao hơn trực tiếp một tầng. Dù sao đi nữa lối luyện thiết sa chưởng vẫn là lối luyện công toàn hảo và rất dễ thành công, dễ sử dụng cũng dễ biểu diễn.

Khi luyện đến mức đại thành, người ta có thể dùng chưởng đánh chết ngựa, trâu dễ dàng. Đối với người thì khó lòng chịu đựng nổi. Công phu này thích hợp cho mọi môn sinh của mọi môn phái luyện riêng để hộ thân.
Cách luyện trực tiếp là: Dùng một thùng lớn trong chứa khoảng hơn 10 kg đậu xanh và đậu đen. Khi luyện đứng thế tồn mã (ngồm xổm) bên thùng đậu rồi hai bàn tay xòe ra thành thế cương đao và ra sức chuyển gân đâm thẳng vào thùng đậu, đâm được đến đáy thùng càng tốt.
Khi đâm tới đáy thùng thì dùng sức co ngón tay lại để móc đậu lên rồi từ từ buông rơi những hạt đậu trong nắm tay đồng thời vận sức vỗ mạnh chưởng xuống. Như vậy là hoàn thành một động tác. Người mới tập thì mỗi lần tập, một tay không nên tập quá ba lần động tác. Sau khi hành công xong thì dùng thuốc ngâm rửa hai bàn tay.

Nếu định thời gian tập là sáng, chiều và tối thì hơn 1 năm là đậu trong thùng phần nhiều đã nát hết. Khi đó thì thay những hạt đậu nát bằng thiết sa (những hạt mạt sắt). Tiếp tục luyện 1 năm nữa thì số đậu còn lại cũng nát hết. Đến đây thì thay hết đậu bằng thiết sa. Luyện thêm một năm nữa thì công lực đã tiểu thành.
Luyện theo phép này khi thành công thì đầu ngón tay có cục chai nhìn vào biết ngay là người luyện ngạnh công.
Về bài thuốc và cách dùng thuốc để hỗ trợ tập luyện thiết sa chưởng sẽ cập nhật ở phần sau.


Khí công nội công là chuyện có thật


Nếu còn nghi ngờ về các câu chuyện nội công thì các bạn hãy xem qua clip trên đây. Đây là một đoạn clip cắt ra từ một phóng sự trên truyền hình ở Trung Quốc. Vị lão võ sư trong clip này đã lần lượt biểu diễn mấy môn công phu thượng thừa.

Ban đầu ông cách không đẩy chưởng làm vỡ một cái bình thủy tinh. Sau đó là dùng một chậu nước đặt lên bàn rồi cũng đứng cách chậu nước khoảng 2 mét và vận công kéo đẩy cái chậu nước. Ở đoạn sau cùng trong clip, ông cởi áo dùng dao cứa, băm vào bụng mình mà không hề hấn gì. Nhìn bụng và da bụng ông, tôi phỏng đoán ông đã rèn luyện công phu Bố Đại Công đến mức thượng thừa mới được như vậy.


Friday, July 5, 2013

10 yếu quyết Thái Cực quyền

Dương Trừng Phủ truyền khẩu giảng, Trần Vi Minh chép lại

(1) Hư linh đỉnh kình: Đỉnh kình, có nghĩa là đầu để cho ngay thẳng, thần dẫn lên trên đầu, không được dùng sức, dùng sức cổ sẽ bị cứng, khí huyết sẽ không được lưu thông, phải có ý hờ và linh động. Không có hư linh đỉnh kình, thì tinh thần không thể sôi động lên.





(2) Hàm hung bạt bối: Hàm hung, có nghĩa là ngực hơi thóp vào trong, để cho khí đi xuống đan điền. Ngực kỵ ưỡn ra, ưỡn ra thì khí sẽ chạy lên ngực, trên nặng dưới nhẹ, bàn chân sẽ dễ bị loạng choạng. Còn bạt bối, có nghĩa là khí dính vào sau lưng, biết hàm hung tức là biết bạt bội, biết bạt bột thì sẽ biết lực là do ở xương sống phát ra, vô địch là ở chỗ đó

(3) Tung yêu: Eo lưng là chủ tể của một thân, thả lỏng eo lưng được thì sau đó hai chân mới có đủ sức, hạ bàn ổn cố. Biến hóa hư thực đều do ở eo lưng chuyển động, do đó mà nói: "Mệnh ý nguyên đầu tại yêu khích" (Cái ý chí mệnh lệnh là ở chỗ cái eo lưng), nếu mà không đủ sức là tìm ở eo lưng và chân

(4) Phân hư thực: Thái cực quyền lấy hư thực làm ý nghĩa số một, nếu toàn thân nằm ở bên chân phải, thì chân phải là thực, chân trái là hư; toàn thân mà nằm ở chân trái, thì chân trái là thực, chân phải là hư. Hư thực mà phân ra được, thì sau đó mới chuyển động linh hoạt, mà không tốn tý sức lực. Nếu không phân ra được, thì đi đứng nặng nề, thân đứng không vững, mà dễ bị người lay động

(5) Trầm kiên trụy trửu: Trầm kiên, có nghĩa là vai tung lỏng và hạ xuống, nếu không làm được, hai vai nhô lên, tất nhiên khí sẽ tùy theo đó mà đi lên, toàn thân sẽ không lấy được sức nhĩ. Trụy trửu, có nghĩa là cùi chỏ hạ chìm xuống, cùi chỏ mà đưa lên, thì vai sẽ không hạ xuống được, quăng người ra không xa, sẽ đi gần với ngoại gia dùng cương kình.

(6) Dụng ý bất dụng lực: Thái cực quyền luận có nói: "thử toàn thị dụng ý bất dụng lực" (cái này là chỉ dùng ý không dùng sức). Luyện Thái cực quyền, toàn thân tung khai, không để có một tý nào sức , sợ bị đình trệ cân cốt huyết mạch, mà bó thúc thân thể; sau đó rồi biến hóa mới linh hoạt, tròn và lưu chuyển như ý. Nếu mà nghi ngờ là nếu không dùng sức thì làm sao mà có sức mạnh ? Bởi rằng thân thể người ta có kinh lộ, như là đất có mạch nước, mạch mà không tắc thì nước chảy, kinh lộ mà không bị bế tắc thì khí sẽ thông. Nếu như cả thân thể đầy sức làm tắc kinh lộ, khí huyết sẽ bị đình trệ, chuyển động không linh hoạt, kéo một cái là cả người bị lay chuyển. Còn nếu không dùng sức mà dùng ý, chỗ nào ý tới thì khí sẽ lập tức tới, như vậy, khí huyết lưu hành, ngày ngày lưu chuyển, chu lưu toàn thân, không lúc nào đình trệ; Luyện như vậy lâu ngày, sẽ được nội kình chân chính, tức là như trong Thái cực quyền luận nói: "Cực chí nhu, nhiên hậu cực chí cương".Người tập luyện công phu Thái cực quyền, cánh tay như bông gòn bọc thiết, phân lượng rất trầm; người luyện quyền ngoại gia, dùng sức là thấy có sức, không dùng sức thì thấy nhẹ hời, có thể thấy rằng sức là kình lực phía ngoài, không dùng ý mà dùng sức, rất dễ bị lay động, không đủ hay.

(7) Thượng hạ tương tùy: Thượng hạ tương tùy, tức là như Thái cực quyền luận nói là: "Kỳ căn tại cước, phát vu thoái, chủ tể vu yêu, hình vu thủ chỉ, do cước nhi thoái nhi yêu, tổng tu hoàn chỉnh nhất khí" (Căn là ở chân, phát ra bắp chân, chủ tể là eo lưng, hình tượng ở bàn tay ngón tay, từ chân mà tới bắp chân, rồi eo lưng, phải chung là thành một hơi). Bàn tay động, eo lưng động, chân động, nhãn thần tùy theo đó mà động, như vậy thì mới gọi là thượng hạ tương tùy, có một cái nào không động tức là tán loạn rồi

(8) Nội ngoại tương hợp: Thái cực quyền luyện ở chỗ "thần", cho nên nói rằng: "thần vi chủ soái, thân vi khu sử" (thần là chủ soái, thân là kẻ bị sai sử). Tinh thần mà đề lên được, tự nhiên cử động sẽ nhẹ nhàng linh hoạt. Tư thế không đi ra ngoài hư thực, khai hợp. Khai, có nghĩa là chân tay khai, tâm ý cũng theo đó mà khai theo. Hợp có nghĩa là không những chân tay hợp mà tâm ý cũng theo đó mà hợp, được trong ngoài mà thành một khí, thì hồn nhiên không bị ngăn trở.

(9) Tương liên bất đoạn: Quyền thuật ngoại gia, kình là từ ở sức có sau này, do đó mà có sinh có dứt, có tục có đoạn, sức cũ mà hết, sức mới chưa sinh, lúc ấy rất dễ bị người thừa cơ. Thái cực quyền dùng ý không dùng lực, từ đầu tới cuối, miên miên không ngừng, hết một vòng lại trở về đầu, tuần hoàn vô cùng, quyền luận nói là: "như trường giang đại hải, thao thao bất tuyệt", lại nói: "vận kình như trừu ty", đều nói đến một hơi liên quán.

(10) Động trung cầu tĩnh: Quyền thuật ngoại gia, lấy nhảy nhót làm hay, dùng hết khí lực, do đó mà luyện quyền xong, không ai là không thở gấp. Thái cực quyền lấy tĩnh chế ngự động, tuy động mà cũng như tĩnh, do đó đi quyền càng chậm càng tốt. Chậm thì hô hấp sâu và dài, khí trầm đan điền, không bị khổ vì huyết mạch khẩn trương. Kẻ học phải để ý tìm tòi, như vậy thì mới hiểu được.

Luyện tuyệt kỹ điểm huyệt như thế nào?

Người mê phim chưởng hay truyện kiếm hiệp hẳn quen thuộc với tuyệt kỹ điểm huyệt. Thực hư môn công phu huyền thoại này là thế nào?


Trong truyện kiếm hiệp, phép điểm huyệt được mô tả như là một thủ pháp làm cho địch thủ toàn thân tê cứng không nhúc nhích được. 


Điểm huyệt và giải huyệt

Có một điều phải nói rõ từ đầu rằng điểm huyệt cũng chỉ là một môn trong rừng võ với rất nhiều hoa thơm cỏ lạ của các nhà các phái. Sở dĩ nó hiện lên lung linh huyền ảo trong suy nghĩ của quần chúng là do bị ảnh hưởng bởi truyện và phim kiếm hiệp.

Võ thuật là một phần của văn hóa, là phương tiện hun đúc ý chí tinh thần của một dân tộc. Tuy nhiên, nó kém may mắn hơn các thành phần khác như văn học, thơ ca, lịch sử… ở chỗ không được biên chép vào sử sách một cách chi tiết. Thêm vào đó, các môn các phái thường giữ bí mật một vài tuyệt kỹ, chỉ truyền miệng từ thày cho trò mà không phổ biến rộng rãi. Bởi những lý do như thế nên rất nhiều môn võ hiện nay không thể biết đích xác ai là người sáng tạo và có từ bao giờ. Phép điểm huyệt cũng trong tình trạng như vậy. 

Võ sư Hồ Tường khi viết cuốn Tìm hiểu võ thuật Việt Nam đã dẫn ra vài ba quan điểm về nguồn gốc của môn điểm huyệt. Theo đó có người cho môn này là do Bồ Đề Đạt Ma mang từ Ấn Độ sang. Có người lại nói rằng nó vốn đã có từ thời thượng cổ ở Trung Quốc vì sách Hoàng Đế nội kinh từ 2000 năm trước Công nguyên đã có vẽ đồ hình 108 huyệt trên cơ thể con người. Trong khi đó, võ sư Hàng Thanh cho rằng môn điểm huyệt chỉ ra đời từ lúc các võ gia kết hợp được võ thuật với môn châm cứu trong y học. 

Dù lai lịch còn nhiều điều bàn cãi nhưng các sách thuộc các môn các phái khác nhau đều thống nhất về con số 108 là số lượng các huyệt đạo trên cơ thể con người. Huyệt đạo theo định nghĩa của võ thuật và y học phương Đông, là những điểm nhỏ li ti trên thân thể con người. Nó là giao điểm của các đường kinh mạch trong cơ thể, có liên quan trực tiếp đến các cơ quan trong cơ thể. Do vậy, bất cứ một sự tác động nào vào các huyệt đạo đều gây ra phản ứng tức thì trên hệ thần kinh.

Trong số 108 huyệt đạo thì người ta chia ra thành 3 loại: Tử huyệt, Ma huyệt, Sinh huyệt. Tử huyệt là những vị trí yếu hại trên cơ thể người, khi đánh vào đó thì gây phản ứng tức khắc, có thể dẫn đến tử vong. Ma huyệt là những huyệt khi bị đả hoặc điểm trúng thì đau đớn, tê bại, hoặc bất tỉnh nhân sự nhưng không chết. Còn sinh huyệt là những huyệt cứu sống hay cứu tỉnh khi bị đả hay điểm trúng tử huyệt hay ma huyệt.

Qua phim ảnh, quần chúng chỉ biết đến phép điểm huyệt với hình ảnh dùng một ngón tay điểm lên cơ thể con người. Tuy nhiên, lý luận võ học về môn điểm huyệt phong phú hơn nhiều. Theo võ sư Hồ Tường, thuật điểm huyệt gồm các kỹ thuật: Điểm huyệt, đả huyệt, nã huyệt, bế huyệt và giải huyệt. 

Điểm huyệt là dùng những bộ phận có diện tích tiếp xúc nhỏ của cơ thể con người như đầu ngón tay, đầu ngón chân… đã được luyện tập cho cứng rắn, điểm chính xác vào vị trí của huyệt đạo với một tốc độ và cường lực đủ để bế tắc huyệt đạo đó, gây đau đớn tê bại tạm thời hoặc thậm chí làm tật nguyền, thiệt mạng kẻ bị điểm tùy vào vị trí huyệt bị điểm.  

Đả huyệt là dùng bộ phận có diện tích tiếp xúc lớn của con người như nắm đấm, cạnh bàn tay, đầu gối… đã được luyện tập cứng rắn để đánh vào các huyệt đạo. So với điểm huyệt thì đả huyệt dễ thực hiện hơn. Trong cuộc sống hàng ngày có nhiều khi người ta đã ngộ sát một người nào đó vì vô tình đánh trúng tử huyệt của họ. Những trường hợp đó chính là đã vô tình sử dụng phép đả huyệt này. 

Ngoài ra còn có nã huyệt là dùng các ngón tay bấu vào các huyệt đạo gây đau đớn buộc đối phương phải dừng chiến. Thường ngày nếu ai đó khỏe mạnh bóp vào cổ tay hoặc dùng ngón trỏ và ngón cái mà bấu vào chỗ hổ khẩu thì chúng ta cũng thấy đau đớn lắm rồi. Đây chính là phép nã huyệt. 

Bế huyệt là tấn công vào huyệt đạo gây sự tắc nghẽn lưu thông khí huyết, tạo tình huống mất ý thức, mất khả năng chiến đấu. Cuối cùng là giải huyệt, dùng các thủ pháp như bấm, xoa, day… trên vùng huyệt đạo bị tổn thương, tạo sự hồi phục bình thường. Theo như lý thuyết trên thì có lẽ những người làm nghề tẩm quất đang sử dụng một phần kỹ thuật giải huyệt nhằm làm cho khí huyết lưu thông tuần hoàn, giúp người được tẩm quất cảm thấy sảng khoái hơn. 


Điểm huyệt hại người có dễ?

Cứ theo như những gì trình bày ở trên thì thuật điểm huyệt quả là một môn võ vô cùng lợi hại. Chỉ cần chạm được tới người địch thủ là làm chủ được trận đấu. Tuy nhiên, trong thực tế, sử dụng được thủ pháp này không phải dễ.

Không nói tới việc các đối tượng luôn luôn di động trong một trận đấu võ, rất khó để tiếp cận mà điểm huyệt thì bản thân người sử dụng thuật này gặp phải ít nhất 2 rào cản rất lớn. Trước hết, muốn điểm được huyệt thì các bộ phận dùng để điểm phải được luyện tập cho thật cứng rắn. Muốn dùng ngón tay điểm huyệt thì ngón tay phải được luyện tập cho cứng như cái dùi sắt mới có thể dùng được.

Rào cản thứ hai là khả năng nhận biết huyệt của người sử dụng thuật điểm huyệt. Một võ gia muốn điểm được huyệt người khác thì trước hết phải làu thông vị trí huyệt đạo. Trước tiên phải học về huyệt đạo rồi tích cực vẽ đồ hình cơ thể và chấm chính xác vị trí các huyệt đạo lên đó. Sau đó phải nhìn qua là chỉ đúng vị trí huyệt đạo trên cơ thể người đứng đối diện thì mới coi là đạt yêu cầu. 

Mặc dù vậy trong thực tế chiến đấu, đối phương luôn luôn vận động di chuyển nên rất khó để nhận biết chính xác. Mặc khác theo quan niệm phương Đông, huyệt đạo trong cơ thể người có quan hệ với sự vận động thời tiết của vũ trụ. Nội trong 1 ngày thì sự lưu chuyển khí lực trong cơ thể con người cũng đã thay đổi liên tục. Các huyệt mở đóng tùy từng thời điểm khác nhau. Do vậy có khi có điểm trúng cũng không gây được hiệu quả mong muốn. 

Vì những điều đó, trong cuốn Tự luyện nội công Thiếu Lâm tự, võ sư Hàng Thanh đã viết: “Huyệt không nhất thiết nằm gần trên da, có khi ẩn sâu dưới da trong gân thịt, muốn chạm đến để gây phản ứng phải hội đủ điều kiện về vận tốc và sức nặng trên diện tích để đủ sức làm rung động. Do đó học huyệt thì dễ mà học điểm huyệt hại người không dễ”. Giả như có người luyện được thuật điểm huyệt thì cũng nên khéo giữ gìn phẩm hạnh để khỏi lỡ tay hại người mà tổn âm đức.

Thursday, July 4, 2013

Khinh công có thật không?

Nhờ tập nhảy qua các gò đống hàng ngày bằng cách bỏ cát vào hai ống quần, Phạm Ngũ Lão có thể nhảy nhót như chim khi vào kinh đấu võ. 


Khinh công trong tiểu thuyết võ hiệp được miêu tả như những công phu giúp người ta chạy lên ngọn núi dốc đứng, nhún chân nhảy qua tường. Sự thực khinh công là thế nào trong kho tàng võ thuật? 


Khinh công qua lăng kính tiểu thuyết

Trong tiểu thuyết võ hiệp nói chung và của tác giả Kim Dung nói riêng, khinh công được xem là một môn công phu phổ biến. Mọi nhân vật có võ nghệ cao cường thì khinh công cũng đều ở trình độ thượng thừa có thể mượn sức của cành cây, ngọn cỏ để chạy, nhảy trên đó. 

Trong Anh hùng xạ điêu, Kim Dung từng tả Quách Tĩnh khi học võ với Mã Ngọc hàng ngày phải chạy lên một ngọn núi hiểm trở mà người thường không leo trèo được. Chàng ta được Mã Ngọc chỉ cho các phương pháp để vượt qua những đoạn vách đá dựng đứng. Sau một thời gian chạy quen, Quách Tĩnh đã chạy được từ chân núi lên tới đỉnh. Những chỗ vách đá dựng đứng chàng chỉ cần dùng tay với, chân điểm vào những hốc đá là bật lên trên nhẹ nhàng. 

Có khi nhân vật đang bị ngã từ trên cao xuống, khi sắp tiếp đất, muốn không bị dập xương gãy khớp họ liền phóng chưởng đánh xuống đất để tạo phản lực. Đó là cảnh Huyết đao lão tăng nhảy xuống vực sau khi giao đấu với Hoa Thiết Can trong Liên Thành Quyết… Còn như dùng khinh công chạy trên mái nhà lợp bằng ngói mà không gây tiếng động thì các cao thủ hạng ba hạng bốn cũng làm được.

Không phải chỉ trong truyện Kim Dung, ngay ở Việt Nam ta, trong giai thoại về nữ sĩ Hồ Xuân Hương cũng có đoạn nói đến thuật khinh công. Giai thoại kể rằng có ông Tú Đanh ghen với Tổng Cóc vì không lôi được Hồ Xuân Hương dứt ra khỏi Tổng Cóc nên đánh tiếng dọa sẽ đánh chết Tổng Cóc. Biết tin, Tổng Cóc cùng một người gia nhân tên là Ré tìm lên quê Tú Đanh.

Hai người giả vờ đi ngang vào nhà Tú Đanh xin lửa hút thuốc lào. Biết là thày trò Tổng Cóc tìm lên, Tú ta sai người nhà mang lên hòn than cháy đỏ rồi cầm đặt lên đùi xong châm lửa hút. Người xung quanh còn đang hết hồn về hòn than đỏ trên đùi Tú Đanh bỗng nghe phập một tiếng. Nhìn lên đã thấy con dao nhọn cắm sâu đến nửa vào đòn nóc mái nhà. Mọi người ngơ ngác không kịp nhìn thấy Tổng Cóc phi con dao lên như thế nào mà lực mạnh như thế.

Tổng Cóc bảo anh Ré lấy con dao xuống chẻ đóm để hút thuốc. Chỉ thấy Ré vỗ đùi bạch một tiếng nhảy phốc lên. Trong nháy mắt đã rút con dao xuống và cầm trong tay. Chịu thua, Tú Đanh bèn xuống giọng mời thày trò Tổng Cóc ngồi trà thuốc.

Xa xưa nữa, các truyện kể về danh tướng Phạm Ngũ Lão có nói rằng sau khi được Hưng Đạo Vương tiến cử vào làm vệ sĩ cho vua Trần, Phạm Ngũ Lão bị các vệ sĩ của nhà vua ghen tị và thách đấu tỉ võ. Ngũ Lão xin về quê luyện võ 3 tháng. Đến ngày tỉ đấu một mình ông chấp mấy chục vệ sĩ. Vào cuộc ông tay đấm chân đá nhảy nhót như chim đã đánh bại hết các vệ sĩ khiến ai nấy tâm phục khẩu phục. Chi tiết nhảy nhót như chim đó cũng không khác gì thuật khinh công trong tiểu thuyết kiếm hiệp miêu tả.

Sự thực khinh công

Theo kiến giải của các võ sư nối tiếng như Nam Anh, Hàng Thanh, khinh công là một loại công phu luyện tập cho thân thể nhẹ nhàng như bướm lướt cành, như én qua rèm. Trong cuốn Ngũ đài trân tàng bí bản, ông đã trình bày phương pháp tập luyện khinh công gồm 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1 người ta lấy một cái ang hoặc chậu cảnh loại lớn, dùng xi măng bịt cái lỗ ở đáy chậu lại rồi đổ nước vào. Khởi sự tập, người tập dùng túi vải ở trong có chứa những thanh trì rồi buộc vào chân. Ban đầu mỗi chân đeo thêm số chì nặng vài trăm gam. 

Với những túi chì buộc ở chân, người tập nhảy lên miệng cái ang và tập chạy trên đó. Ban đầu còn chưa quen nên chỉ đi từng bước thôi. Sau khi quen rồi mới chạy nhanh được. Khi đã thuần thục thì tăng thêm trọng lượng chì và đổ bớt nước đi. Cho đến khi cái ang sạch nước và chì buộc vào chân đã tăng lên thêm vài trăm gam nữa mà chân chạy vẫn nhẹ nhàng thì thành công giai đoạn 1.

Giai đoạn 2 thì thay cái ang bằng cái chảo lớn loại chảo nấu đường có đít tròn. Đổ đầy sắt vụn hoặc đá nhỏ vào đó rồi chân mang thêm chì nặng hơn giai đoạn 1 và bắt đầu tập chạy quanh miệng chảo. Lại tiếp tục tuần tự lấy bớt sắt và tăng thêm chì như giai đoạn 1. Đến ngày nào chảo không còn sắt vụn hay đá nữa mà chân vẫn chạy nhẹ nhàng là thành công giai đoạn 2.
Sang giai đoạn 3 người ta lấy cát rải mỏng khoảng 2 đến 3 cm tạo thành một con đường nhỏ rồi trên mặt cát đặt mấy lớp giấy. Người luyện chân vẫn mang chì sẽ chạy trên con đường đó. Ban đầu sẽ đạp thủng giấy và có vết trên cát nhưng cứ nhẫn nại luyện tập thì dần dần giấy không bị thủng nữa. Các tờ giấy trên mặt cát bị lấy dần ra. Đến khi mặt đường chỉ còn cát mà chạy không có dấu chân thì khinh công đã luyện được đại thành. Lúc bấy giờ bỏ hết chì buộc ở chân ra mà chạy trên cỏ thì chẳng hề di động, cho đến chạy trên tuyết cũng không in dấu vết, băng qua nước cũng không gợn sóng.

Tuy nhiên, võ sư Nam Anh cũng lưu ý rằng “Được công phu đó ít ra ta cũng mất mười, hay hai mươi năm chuyên luyện” chứ không phải ngày một ngày hai mà thành. 

Võ sư Hồ Tường trong cuốn Tìm hiểu võ cổ truyền Việt Nam cũng trình bày một phương pháp luyện khinh công bằng cách tập nhảy. Cũng với cách đeo thêm vật nặng vào chân rồi đào một cái hố sâu rồi ở dưới hố nhảy lên mặt đất hoặc đứng dưới đất nhảy lên một bậc cao. Qua năm tháng thì lại tăng thêm độ sâu hoặc độ cao của mục tiêu và tăng trọng lượng vật nặng buộc vào chân. Phương pháp tuy đơn giản song võ sư Hồ Tường lưu ý rằng phải luyện tập hàng ngày không được bỏ dở. Cái hay của nó là việc tập luyện thường xuyên và lâu dài mới mong thành tựu.

Từ phương pháp của hai võ sư trên lại nhớ đến câu chuyện truyền khẩu về việc tập luyện của tướng quân Phạm Ngũ Lão. Người ta kể rằng trong thời gian ông xin vua về quê 3 tháng, hàng ngày ông bỏ cát vào hai ống quần rồi buộc túm lại để tập nhảy qua các gò đống ở quê. Nhờ việc tập luyện ấy nên khi vào kinh đấu võ ông mới có thể nhảy nhót như chim mà đánh thắng các cao thủ trong cung.

Thiết nghĩ các phương pháp trên hoàn toàn có cơ sở khoa học chứ không phải chuyện huyễn hoặc. Cứ mang vật nặng tập nhảy tập đi như thế thì trước hết chân sẽ rất khỏe và sức bật ngày càng tăng. Thân thể phải giữ thăng bằng trong bài tập trên ang hoặc phải lao lên không trong bài tập nhảy nên cũng dần nhẹ nhàng hơn. Quan trọng hơn hết là sự luyện tập ngày này nối tiếp ngày kia mới bồi đắp được sức lực và kỹ thuật ngày một tăng tiến đến mức có thể chạy trên nước hay nhún chân nhảy qua tường. Cơ thể con người là một hệ thống thích nghi tuyệt diệu, cứ kiên trì luyện tập ắt có ngày thành tựu.

Trong chương trình Chuyện lạ Việt Nam, mấy năm trước các võ sư phái Lâm Sơn Động (Hà Tây cũ) đã chạy trên mặt nước với một lớp cót dải dưới mặt nước. Tuy chưa thể chạy trên mặt nước không nhưng như thế cũng cho thấy chuyện khinh công không phải là huyễn hoặc. 

(Theo kienthuc.net.vn)