Nhân vật võ thuật

Showing posts with label chuyen-lang-vo. Show all posts
Showing posts with label chuyen-lang-vo. Show all posts

Wednesday, September 19, 2018

Chuyện Trung Quốc cử cao thủ dạy Bác Hồ Thái Cực Quyền

Trong phim tư liệu có đoạn Bác Hồ luyện Thái cực quyền nhưng ít ai biết Người đã tập luyện môn võ này từ bao giờ và tập như thế nào. 

Theo tài liệu của cả Trung Quốc và Việt Nam thì vị võ sư đã dạy Thái cực quyền cho Bác là võ sư Cố Lưu Hinh. Ông sinh năm 1908 mất năm 1990 là người Thượng Hải. Ông được biết đến như một trong những chuyên gia về Thái cực quyền nổi tiếng ở cả trong và ngoài Trung Quốc. 


Các tài liệu Trung Quốc cho biết võ sư Cố Lưu Hinh học võ từ năm 11 tuổi. Trong suốt cả cuộc đời luyện võ, ngoài việc chuyên tâm luyện quyền, ông còn thăm viếng nhiều danh sư khắp nước để học hỏi thêm sở trường các môn các phái. Ông cũng từng giữ chức Phó sử nghiên cứu kiêm trưởng khoa thể dục Thượng Hải, Chủ tịch Hiệp hội võ thuật Thượng Hải… 

Năm 2004, trên tạp chí Võ thuật Trung Hoa có đăng lại một bài tự thuật của võ sư Cố Lưu Hinh về chuyến sang Việt Nam dạy võ cho Hồ Chủ tịch. Nhờ đó chúng ta mới biết rõ về việc học Thái cực quyền của Bác Hồ. 

Võ sư Cố Lưu Hinh kể rằng ông đã ở Hà Nội từ tháng 1 đến tháng 4/1957 để dạy quyền cho Bác. Việc này bắt nguồn từ chuyến thăm của Thủ tướng Chu Ân Lai và Phó Thủ tướng Hạ Long tháng 10/1956. Khi đó, Phó Thủ tướng Hạ Long – vốn là một người ham thích võ thuật đã giới thiệu với Bác về tác dụng dưỡng sinh và trị bệnh của Thái cực quyền. Bác Hồ nghe xong rất hứng thú nên đề nghị phía Trung Quốc cử chuyên gia sang hướng dẫn. Sau chuyến thăm này, Ủy ban TDTT Trung Quốc đã giao nhiệm vụ cho võ sư Cố Lưu Hinh. 

Trước khi sang Hà Nội dạy Bác Hồ, ông Cố Lưu Hinh rất băn khoăn vì Thái cực quyền có nội dung chiến đấu mà Bác thì tuổi đã cao, hơn nữa lại là lãnh đạo Nhà nước, dạy nhẹ thì không hiệu quả mà nặng quá thì e lại là không tôn trọng. Sau cùng ông Hoàng Trung – Phó Chủ nhiệm Ủy ban TDTT Trung Quốc quyết định chỉ cần chú trọng đến phương diện y lý trị bệnh mà không cần dạy chiến đấu, kỹ tích. 

Ngày 12/1/1957, võ sư Cố đến Hà Nội bằng tàu hỏa, Bác cử người của Ban Ngoại vụ ra đón. Thời gian đó Bác đang bận chủ trì một hội nghị của Đảng nhưng ngay hôm sau Người vẫn thu xếp thời gian đến gặp võ sư Cố. Người nói chuyện với võ sư bằng tiếng Quảng Đông rất lưu loát. Trong buổi gặp đầu tiên ấy, Cố Lưu Hinh đã tặng Bác 3 cuốn Thái cực quyền giản hóa do UBTDTT Trung Quốc ấn hành và toàn bộ hình ảnh Dương Trừng Phủ đi quyền. 

Võ sư Cố Lưu Hinh viết: “Hồ Chủ tịch quy định thời gian tập, buổi sáng từ 6h đến 6h30, chiều từ 18 đến 19h. Trong buổi tiệc chúc mừng năm mới, tôi được Hồ chủ tịch mời tham dự và giới thiệu với một số cán bộ cao cấp, phần lớn trong số họ là xuất thân từ quân ngũ, cơ thể vạm vỡ, sức khỏe dồi dào, tôi tự nghĩ là không biết liệu mọi người có chịu tiếp thu nguyên tắc của Thái Cực Quyền được hay không? Do vậy tôi có đề nghị với Hồ chủ tịch rằng, trước tiên giảng về quyền lý, phương pháp luyện tập, để có cơ sở ban đầu, Hồ chủ tịch rất tán đồng”. 

Theo kế hoạch, Bác Hồ bắt đầu tập Thái cực quyền từ ngày 5/2/1957 theo giáo trình tập luyện trong 40 ngày do võ sư Cố Lưu Hinh biên soạn. Bác rất trân trọng nhân tài và cũng rất quan tâm đến mọi người nên đã chỉ thị cho những cận vệ và các cán bộ gần gũi mình cùng tập luyện. 

Theo lời tựa cuốn Thái Cực Quyền của cố võ sư Cố Lưu Hinh do ông Tạ Quang Chiến – nguyên Tổng cục trưởng Thể dục Thể thao Việt Nam và cũng là một cận vệ của Bác Hồ thời đó cho biết: “Người rất trọng nhân tại và quan tâm đến mọi người xung quanh nên chỉ thị cho chúng tôi tổ chức thành lớp học có gần 20 anh, chị em cùng tham gia học Thái cực quyền. 

Chính tại cái sân rộng rãi chếch phía sau bên phải ngôi nhà một tầng nơi Người đã từng ở và làm việc gần 10 năm sau giải phóng Thủ đô, sáng sáng Người dậy rất sớm để cùng lớp học nghiêm túc theo từng động tác của lão võ sư. 

Người còn cùng lớp học, không bỏ buổi nào nghe võ sư Cố Lưu Hinh giảng giải về lý thuyết võ học, võ đạo. Người thường ân cần hỏi han trân trọng và nhiều lần giữ lão võ sư ở lại cùng ăn sáng và trao đổi ý kiến rất cởi mở, thân mật”. 

Bản thân võ sư Cố cũng kể: “ Thư ký Tạ Quang Kiện (có lẽ chính là ông Tạ Quang Chiến) và cận vệ trưởng Vương Văn Chương đều nói là buổi sáng Người dậy từ 4h sau đó bắt đầu bật đèn và tự tập Thái cực quyền. Buổi sáng Hồ Chủ tịch cùng với thư ký, cảnh vệ, đầu bếp tập 3 đến 4 lần quyền, buổi tối có lúc lại ngồi xem tôi hướng dẫn luyện, vừa tập theo đồng thời chỉnh tư thế cho mọi người. Hồ Chủ tịch vốn có cơ bản về võ thuật cho nên tư thế động tác gọn và chuẩn hơn những người khác, tốc độ cũng nhanh hơn chút, nhưng Người cũng kiên trì đợi tập cùng mọi người đến khi nào thuần thục mới thôi, theo kế hoạch là 40 ngày nhưng vì vậy mà phải kéo dài thêm. Từ 5/2 đến 16/4 đã trải qua 62 ngày luyện…”. 

Đến cuối tháng 4, võ sư Cố Lưu Hinh về nước vì tháng 7 phải tham gia Đại hội võ thuật toàn Trung Quốc. Khi chia tay, Bác nói: “Nếu đã vậy thì chúng tôi cũng không giữ anh ở lại nữa, hy vọng sau này có cơ hội thì lại mời anh sang dạy quyền”. 

Nhưng vào cuối năm đó, võ sư Cố lại có vinh dự dạy quyền cho Bác một lần nữa khi Bác sang Hàng Châu. Tại đây Bác ở tại Hoa viên Tạ Gia còn ông Cố Lưu Hinh thì được công an thành phố Thượng Hải đưa tới khách sạn Đại Hoa cạnh Tây Hồ. Dịp này Bác tập luyện với võ sư Cố thêm được nửa tháng nữa. Khi chia tay Bác tặng ông Cố Lưu Hinh một bức chạm Tháp Rùa hồ Hoàn Kiếm bằng ngà voi rất đẹp. 

Bác Hồ sau khi học được Thái cực quyền rất kiên trì luyện tập. Ông Tạ Quang Chiến viết trong tài liệu đã dẫn ở trên: “Qua tập luyện của Bác Hồ những năm 1955 – 1957 so sánh với trước đó, chúng tôi thấy Thái cực quyền là bài tập mà Người ưa thích nhất, có lẽ vì nó hấp dẫn, mang lại kết quả tích cực, rất thích hợp với mọi người, đặc biệt người lớn tuổi”. 



Wednesday, February 15, 2012

Cái chết của Lý Tiểu Long

Lý Tiểu Long chết không tự nhiên?
Sau khi uống viên thuốc giảm đau do Đinh Phối đưa cho, Lý Tiểu Long lên giường nằm nghỉ nhưng không ai ngờ rằng huyền thoại võ thuật không bao giờ tỉnh lại nữa.



Hơn 10 giờ, Chu Bác Hoài có mặt tại nhà Đinh Phối, sau khi kiểm tra sơ bộ cho Lý Tiểu Long, bác sỹ phát hiện anh đã bị hôn mê, không thể đánh thức, thậm chí đến hơi thở, nhịp tim đều đã ngừng hoạt động. Chu Bác Hoài cho biết khi đó trông vẻ mặt Lý Tiểu Long rất thư thái, không có chút biểu hiện gì của đau đớn, ông đã cố gắng làm cho Lý Tiểu Long tỉnh dậy trong 10 phút nhưng vô ích, Lý Tiểu Long đã hoàn toàn mất dấu hiệu của sự sống, Chu Bác Hoài đề nghị đưa Lý Tiểu Long tới bệnh viện Elizabeth. Có thể Lý Tiểu Long đã chết vào lúc 10 giờ.

Nói về loại thuốc giảm đau mà Đinh Phối đã đưa cho Lý Tiểu Long uống, Trâu Văn Hoài cho biết loại thuốc này mạnh hơn thuốc aspirin, người bình thường uống một viên không sao nhưng đối với người mẫn cảm thì loại thuốc này có thể gây ra phản ứng phụ không tốt. Cũng có thể nói Lý Tiểu Long bị dị ứng với loại thuốc này.

Xe cấp cứu số 43 của đội cứu hộ Ma Tau Chung đã tới căn hộ của Đinh Phối vào lúc 10h37, nhân viên cứu hộ cao cấp Bành Đức Sinh đã nhanh chóng kiểm tra và phát hiện Lý Tiểu Long đã ngừng thở, sau đó đã hô hấp nhân tạo và hỗ trợ ô-xy cho Lý Tiểu Long nhưng cũng không thể cứu anh tỉnh lại. Trên đường tới bệnh viện, Bành Đức Sinh đã nhiều lần cấp cứu những mọi nỗ lực đều vô ích.

11 giờ tối, xe cấp cứu tới bệnh viện Elizabeth, Lý Tiểu Long được đưa vào phòng cấp cứu, cơ thể anh không có phản ứng gì, tim ngừng đập. Sau khi kiểm tra, các bác sỹ tuyên bố, về lý luận, Lý Tiểu Long đã chết nhưng xem xét tới thân phận đặc biệt của anh nên bác sỹ Tằng Quảng Chiếu đã tiêm epinephrine (thuốc kích thích giao cảm) để hồi sức tim phổi. Tuy nhiên, sau khi tiêm xong, Lý Tiểu Long vẫn không tỉnh dậy.

11h30, bác sỹ tại bệnh viện Elizabeth ký tên vào giấy chứng tử cho huyền thoại võ thuật Lý Tiểu Long.

Kết quả khám nghiệm tử thi Lý Tiểu Long của bác sỹ pháp y Diệp Chí Bằng cùng với kết quả điều tra căn hộ của Đinh Phối cho thấy trên ngón chân trái của Lý Tiểu Long có một vết máu, bên ngực trái cũng có vết kim tiêm lúc hồi tim khẩn cấp nhưng cơ thể Lý Tiểu Long không hề có vết thương gì khác hay dấu hiệu bạo lực, hơn nữa không có dấu hiệu giằng co hay thuốc độc, vì thế Diệp Chí Bằng nhận định Lý Tiểu Long không bị người khác giết hại. Ông còn nói thêm Lý Tiểu Long đã có tiền sử hôn mê đột ngột khi đang chụp hình nên đó có thể là các dấu hiệu trước khi Lý Tiểu Long đột tử.

Căn cứ theo những lời khai, tòa án điều tra nguyên nhân cái chết của Lý Tiểu Long đã phải đưa ra phán quyết sơ bộ là “không rõ nguyên nhân cái chết”.

Kết luận này quả thực đã không khiến người hâm mộ và giới truyền thông hài lòng. Do đó, điều tra vẫn được tiếp tục và quan trọng nhất chính là báo cáo khám nghiệm tử thi Lý Tiểu Long.

Sau khi tử thi Lý Tiểu Long được mổ xẻ, các mẫu gan, thận, ruột non, ruột già, máu, dạ dày ngay lập tức được gửi tới phòng thí nghiệm địa phương tại Hong Kong, do bác sỹ Lâm,thuộc sở pháp y tiến hành kiểm tra, các mẫu vật còn lại được gửi tới phòng thí nghiệm ở Australia và New Zealand phân tích.

Tuy nhiên, khi báo cáo khám nghiệm tử thi vừa được đưa ra, Lý Tiểu Long đã được chôn cất. Điều đáng chú ý nhất trong báo cáo khám nghiệm tử thi là phát hiện một lượng nhỏ cần sa trong cơ thể Lý Tiểu Long. Bác sỹ pháp y họ Lâm và nhà bệnh lý học tại bệnh viện Elizabeth- Lê Sử Đặc cho biết lượng cần sa này có thể là nguyên nhân gây ra cái chết của Lý Tiểu Long. Bác sỹ Lê cũng lưu ý rằng không phát hiện vết thương trên đầu của Lý Tiểu Long và cũng không có chảy máu não hay hiện tượng nhồi máu não, các cơ quan trong cơ thể đều bình thường, ngoại trừ phần não có vết sưng có thể xuất hiện trước khi chết 30 giây và đến rất nhanh nên vết sưng này không nhất định là nguyên nhân gây ra tử vong, có thể dị ứng với thuốc giảm đau mới là nguyên nhân chính dẫn tới cái chết đột ngột của siêu sao võ thuật.

Lập luận trên trùng với quan điểm của giáo sư Avandia tại đại học London, ông cho rằng Lý Tiểu Long chết vì chứng phù não do một số thành phần trong thuốc giảm đau gây ra phản ứng dị ứng. Nhưng đây cũng chỉ là suy đoán chứ không có kết luận chính thức.

Tất cả những bằng chứng thu thập được sau 2 tháng đều không thể nào tìm ra nguyên nhân cái chết của Lý Tiểu Long nên thẩm phán tòa án Hong Kong Đổng Tử Quang đã quyết định đưa ra kết luận “không rõ nguyên nhân cái chết”.

Sau đó tòa lại phán quyết Lý Tiểu Long “chết không tự nhiên”. Phán quyết này đã bị phản đối kịch liệt, người dân ở Hong Kong đều tỏ ra hoài nghi và cho rằng tuyên bố này của tòa án rất hời hợt và mơ hồ.

Đứng trên quan điểm khách quan, phán quyết này không phải không hợp lý, thậm chí có thể nói đã làm giảm tranh cãi xuống mức thấp nhất, là sự thay thế hợp lý nhất. Tuy nhiên, quan tòa đã xem nhẹ thái độ chú ý của dân chúng trước cái chết của Lý Tiểu Long, hay nói cách khác phán quyết này không đáp ứng được mong đợi của mọi người về thông tin cái chết của Lý Tiểu Long. Tuy nhiên, đứng trên lập trường của các nhà chức trách, tất nhiên họ không hy vọng việc điều tra cái chết của Lý Tiểu Long ngày càng lan rộng, thêm nhiều người vào cuộc, hao tổn nhiều nguồn lức để tìm ra nguyên nhân mà không thu được kết quả gì.

Ngoài ra, cũng phải nhìn nhận bối cảnh xã hội Hong Kong lúc đó, những năm 60, 70 của thế kỷ trước là thời kỳ nạn tham ô hoành hành ở Hong Kong, cảnh sát ăn hối lộ, câu kết với xã hội đen, vừa nhận tiền hối lộ, vừa lợi dụng chức quyền để bao che tội phạm, thậm chí có thể mua bán được chức vụ cảnh sát. Chỉ cần có được tiền, có thể làm cảnh sát và thả tội phạm, điều này đã khiến an ninh xã hội và trật tự kinh tế Hong Kong khi đó rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng.

Sống trong hoàn cảnh đó, người dân Hong Kong luôn bị chèn ép và hình tượng anh hùng Lý Tiểu Long trên phim đã đáp ứng được nguyện vọng của họ lúc bấy giờ. Đó cũng chính là nguyên nhân vì sao Lý Tiểu Long lại được yêu mến tới vậy. Ngoài ra, các cơ quan ban ngành trong chính quyền Hong Kong đang trong giai đoạn lộn xộn, nhiệm vụ trọng tâm của các nhà chức trách là chống tham nhũng, loại bỏ lực lượng cảnh sát suy thoái, thành lập ủy ban chống tham nhũng, vì thế họ không hy vọng cái chết của Lý Tiểu Long sẽ lãng phí quá nhiều nhân lực cũng nhưng điều quá nhiều chuyên gia, nhân viên đi điều tra cái chết của Lý Tiểu Long và càng không muốn vì sự kiện của Lý Tiểu Long mà làm dứt dây động rừng, ảnh hưởng tới kế hoạch vây bắt tội phạm của chính quyền.

Nhưng nhìn từ góc độ khác, chính vì sự chú ý của quần chúng tới cái chết của Lý Tiểu Long, chính quyền Hong Kong mới có thể sắp xếp mọi thứ lặng lẽ để loại trừ một loạt cảnh sát tham nhũng.

Theo Vietnamnet/China.com

Tuesday, July 19, 2011

ai là đệ nhất cao thủ của võ Việt Nam

Ai là thiên hạ đệ nhất cao thủ võ Việt? “Đó người cả đời cống hiến, hi sinh cho võ thuật và hết mình với nền võ học nước nhà” - lời Huyền Đạo Công Trần Công.

Huyền Công Đạo Trần Công khí công cự phách, ám khí kinh hồn; Thanh Hư Chân nhân Đoàn Tâm ảnh xuất quỷ nhập thần, nghiệp võ huy hoàng vài thập kỉ; lão võ sư Trần Tiến, Hà Châu tuổi đã xấp xỉ bách niên nhưng quyền thuật thì vẫn mạnh như mãnh thú, gần xa nô nức khen tài... Kế đến, “lớp trẻ” như võ sư Chu Há, Băng Sơn, Vũ Quang Tín, Văn Thắng... cũng tài danh lừng lẫy, gây dựng nghiệp võ khiến người người thán phục, ngợi ca.



Vậy, trong số những “ngôi sao sáng chói” ấy, ai là thiên hạ đệ nhất?

Hùng kê đệ nhất?

Ông Trương Quang Trung, Phó Chủ tịch Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, nguyên là Vụ trưởng Vụ Thể dục Thể thao quần chúng (đồng thời là Tổng Thư ký đầu tiên của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, từ năm 1991 tới năm 2007), đã được sống, được gắn bó với nhiều võ sư tên tuổi của làng võ Việt Nam.

Đặc biệt hơn, ông chính là người đã tiến hành biên soạn, xuất bản cuốn sách "Đời người - Nghiệp võ", được tạm gọi là phác thảo đầu tiên về “khuôn mặt” những cao thủ của võ lâm Việt Nam suốt từ Nam chí Bắc.

Trong cuốn sách ấy, ông đã giới thiệu 23 võ sư, họ đều là những người nổi tiếng, có đóng góp tích cực cho phong trào võ thuật nước nhà. Tuy thế, khi hỏi ông về nhân vật số một trong làng võ đương đại, quan điểm cá nhân, ông đã không ngần ngại mà trả lời, người ấy là lão võ sư Ngô Bông, truyền nhân của bài võ Hùng kê quyền, hiện đang sinh sống ở Quảng Ngãi.

Theo ông Trung, lão võ sư Ngô Bông là người vô cùng say mê với võ thuật. Bất cứ nơi nào có “chuyện võ” là nơi ấy có sự “góp vui” của lão võ sư ấy.

Lão võ sư Ngô Bông sinh năm 1923, trong một gia đình nghèo ở Tư Nghĩa, Quảng Ngãi. Cha bị giặc Pháp sát hại, mẹ mất sớm nên ông phải về ở với nhà ngoại của mình. Tại đó, ông đã được hai cậu ruột của mình là Lê Chót và Lê Thuỳ dạy võ Tây Sơn. Trong số những bài võ ấy có Hùng kê quyền, tương truyền do Nguyễn Lữ sáng tác từ các thế đánh của gà chọi.

Tiếp đến, khi đã thành một thanh niên vạm vỡ, ông đã theo học Thiếu lâm với hai người thầy nổi tiếng ở Quảng Ngãi là Bảo Truy Phong (Gấu già) và Lâm Võ. Và cũng như nhiều võ sinh lúc bấy giờ, võ sư Ngô Bông cũng đã nhiều lần thượng đài thi đấu quyền Anh và võ tự do. Ông đã từng thắng nhiều võ sĩ tên tuổi lúc bấy giờ như Đinh Hổ (võ sĩ Campuchia), Đinh Đam (võ sĩ người Huế), Trực Hùng, Trực Ninh...

Với những đóng góp của mình cho phong trào võ thuật, khi Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam được thành lập, ông được mời làm cố vấn. Năm 1993, trong một hội thảo chuyên môn, bài Hùng kê quyền do ông là truyền nhân đã được bình chọn là một trong những bài võ thống nhất (nằm trong thể thức thi đấu) của Liên đoàn. Đặc biệt hơn, năm 2004, khi đã ngoài 80 tuổi, tại Liên hoan võ thuật truyền thống thế giới tổ chức tại Hàn Quốc, trước 70 môn phái Võ thuật nổi tiếng của khắp các quốc gia, với bài Hùng kê quyền do chính lão võ sư Ngô Bông thể hiện đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt của tất thảy mọi người.

Mãnh sư Trần Tiến ở ngôi đầu?

Võ sư Phan Dương Bình (Bình “bún”) lại có “quan điểm” khác. Luận bàn về chủ đề này, quan điểm cá nhân, võ sư Phan Dương Bình “đề cử” ngay rằng trong số những võ sư đương đại, ông thấy lão võ sư Trần Tiến xứng đáng được ngồi vào “ghế” đầu tiên.

Võ sư Phan Dương Bình kể, ông vừa mới đi Nam về. Chuyến đi ấy, vào Thành phố Hồ Chí Minh, ông và lão võ sư Trần Tiến đã có nhiều thời gian để trao đổi với nhau những điều tâm huyết về võ thuật. Điều ông thấy mừng là dù tuổi đã xấp xỉ bách niên nhưng lão võ sư Trần Tiến vẫn vô cùng rắn rỏi, minh mẫn. Điều ấy là minh chứng rõ ràng nhất cho sự uyên thâm của lão võ sư trên “con đường” võ học của mình.

Lão võ sư Trần Tiến sinh năm 1911, trong một gia đình có truyền thống võ học ở Bắc Giang. Ông nội ông là cụ Hoàng Hảo, bố là Hoàng Tân, cùng chi họ và từng tham gia nghĩa quân của hùm xám Yên Thế Hoàng Hoa Thám.

Khi nghĩa quân tan rã, để tránh sự truy sát của quân giặc, gia đình ông đã phải dạt về Đồ Sơn, Hải Phòng và đổi sang họ Trần. Ông được ông nội và cha mình truyền dạy võ công từ khi còn nhỏ. Năm 15 tuổi, cơ duyên, ông đã được lãnh hội võ công của một nhà sư người Trung Quốc sang Việt Nam lánh nạn, tên là Lý Giang Nam, quê ở Phúc Kiến, thuộc phái Thiếu Lâm.

5 năm sau đó, ông tiếp tục thụ giáo Nhu thuật và Judo của 2 võ sĩ người Nhật tên là Tanabe và Karachi. Với tinh thần ham học hỏi, ông còn tập cả quyền Anh do võ sĩ người Pháp Lafeur chỉ dạy.

Khi mới ngoài 20 tuổi, võ sư Trần Tiến đã danh nổi như cồn khi giành ngôi vô địch kiếm thuật ở Bắc Kỳ. Bởi bị giặc Pháp săn đuổi vì lý do “kích động kẻ xấu luyện võ gây mất an ninh trật tự” nên cuối năm 1936, võ sư Trần Tiến phải khăn gói vào Nam. Quãng thời gian này, bởi mưu sinh và cũng bởi sự sốc nổi của tuổi trẻ nên võ sư Trần Tiến đã rất nhiều lần thượng đài ở khắp các nước Đông Nam Á với nhiều đối thủ khác nhau và đều giành về mình phần thắng.

Theo võ sư Trần Tiến thì trận thượng đài cuối cùng của ông diễn ra trên đất Singapore. Sau khi loại hàng loạt các đấu thủ, trận “chung kết” ông gặp một đối thủ là võ sĩ người bản địa có biệt hiệu là Tiểu Lâm Xung.

Tiểu Lâm Xung là võ sĩ có thân hình cao lớn, rắn chắc. Trước đó, nhiều trận đấu, Tiểu Lâm Xung để đối thủ thoải mái tung quyền, cước vào người mà chẳng hề hấn gì. Khi đã thấm mệt, chỉ một đòn là Tiểu Lâm Xung hạ nốc ao đối thủ. Trước trận đấu căng thẳng ấy, trong lần tổ chức họp báo, Tiểu Lâm Xung đã thề sẽ đánh gục võ sĩ người Việt để “rửa hận” cho những “chiến hữu” đã bị ông triệt hạ. Thời gian ấy, võ sư Trần Tiến đang là nhân vật để một hãng giày nổi tiếng thực hiện quảng bá hình ảnh. Bởi thế, sự quan tâm của công chúng tới trận đấu “sinh tử” của ông là cơ hội tuyệt vời để hãng giày đó khuếch trương thương hiệu của mình. Do vậy, trước trận đấu, ông đã nhận được “tối hậu thư” của “đơn vị tài trợ”, buộc ông phải thắng.

Lên đài, với “bàn tay sắt” của mình, như để thị uy, doạ nạt đối phương, Tiểu Lâm Xung đã tung những cú đấm sấm sét của mình vào những tấm gỗ dày đến 5 cm khiến chúng vỡ tan. Trước đòn phủ đầu ấy, ông vẫn không hề nao núng. Cậy sức, Tiểu Lâm Xung ra đòn tới tấp, nhưng với thân thủ nhanh nhẹn, võ sư Trần Tiến đã khéo léo tránh, né, đỡ đòn. Già nửa thời gian của trận đấu trôi qua, tuy chưa bị dính đòn nào nhưng phần thắng đã có vẻ nghiêng hẳn về võ sĩ người bản địa vì lợi thế tấn công nhiều hơn. Trong lúc say máu tấn công, Tiểu Lâm Xung đã bộc lộ nhiều sơ hở. Và, trong một tích tắc “ham công bỏ thủ” ấy, võ sư Trần Tiến đã nhanh chóng áp sát. Hạ thấp tấn, bằng một thế xà quyền, ông đã đánh thốc vào hạ bộ đối phương. Chỉ một đòn ấy, Tiểu Lâm Xung đã đổ đánh huỵch xuống sàn, không tài nào gượng dậy được. Vậy là, phần thắng đã thuộc về võ sư người Việt.

Thế nhưng, trong phút giây vinh quang ấy, thấy Tiểu Lâm Xung nằm bất động trên sàn, ông bỗng thấy ăn năn, day dứt. Thật ra, đòn ấy, với võ đài thi đấu kiểu tự do như trên thì chẳng có gì là sai luật, nay với tinh thần võ đạo, cú đánh ấy lại là cấm kỵ bởi tính sát thủ kinh hồn. Vậy nên ông tự nhận mình là người thua cuộc. Sau trận đấu ấy, ông đã tránh xa “kiếp sống võ đài”.

Năm 1945, ra Hà Nội, được Việt Minh giác ngộ, lão võ sư Trần Tiến tham gia cách mạng. Vào quân ngũ, với khả năng quyền thuật siêu phàm của mình, ông đã được tổ chức phân công huấn luyện bộ đội tinh nhuệ (lực lượng đặc công sau này).

Năm 1978, ông rời quân ngũ nhưng vẫn tự nguyện tham gia dạy võ thuật cho một số sĩ quan quân đội Campuchia suốt hơn chục năm trời. “Về hưu” nhưng với nghiệp võ thì ông vẫn miệt mài theo đuổi.

Chắt lọc, đúc kết những tinh hoa võ học mà mình cả đời tích luỹ, lão võ sư Trần Tiến đã sáng lập võ phái Thiếu lâm nội gia võ thuật đạo Việt Nam. Đến giờ, võ phái của ông đã thu hút cả ngàn môn sinh. Trong số ấy, có rất nhiều môn sinh người Âu, Mỹ, Phi... bởi nghe danh mà lặn lội tìm về theo học. Với một sự nghiệp huy hoàng như trên, theo võ sư Phan Dương Bình, trong số những võ sư Việt Nam hiện đang còn sống và tham gia hoạt động võ thuật, lão võ sư Trần Tiến xứng đáng được xếp ở ngôi đầu.

Nhất Công nhì Ảnh?

Lão võ sư Trần Hưng Quang (Quang “ốc”, Chưởng môn phái Bình Định Gia) là người vô cùng nghiêm túc trên con đường võ đạo đồng thời rất khắt khe với những nhận xét của mình. Tuy vậy, khi hỏi người đầu tiên mà ông nghĩ tới khi “lập bảng phong thần” thì ông đã trả lời ngay, người ấy là Huyền Công Đạo Trần Công, Chưởng môn phái Không Động.

Theo lão võ sư Trần Hưng Quang thì Huyền Công Đạo là người có đóng góp rất lớn cho võ thuật cổ truyền, đặc biệt là làng võ thủ đô Hà Nội. Huyền Công Đạo được biết tới như một người có nội công, khí công siêu phàm đồng thời là “cha đẻ” của rất nhiều binh khí đặc dị. Trong số ấy, độc môn ám khí của lão võ sư đã danh trấn giang hồ, không ai bì kịp. Làng võ Việt Nam, rất nhiều những võ sư nổi tiếng đều đã tìm đến lão võ sư để nhờ người chỉ giáo.

Nhận xét trên của lão võ sư Trần Hưng Quang cũng trùng với ý kiến của nhiều người. Bắc Phong Chân nhân Băng Sơn, Chưởng môn phái Võ lâm Phật gia cũng đồng quan điểm ấy. Có một giai thoại do võ sư Băng Sơn kể lại, năm 1991, khi Đại hội võ thuật toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội, một số võ sư đã tiến hành “bình bầu” xem ai là đệ nhất cao thủ võ Việt. Và theo như kết quả của cuộc “bầu chọn” ấy, lão võ sư Trần Công đã ở ngôi đầu, kế đến là Thanh Hư Chân nhân Đoàn Tâm Ảnh.

Khi chúng tôi gặp để xác minh thông tin này, thì viện lý do tuổi cao, lão võ sư Trần Công bảo ông không còn nhớ gì đến chi tiết này nữa. Và, nếu điều này thực sự... đã diễn ra thì ông cám ơn mọi người đã tỏ lòng mến mộ.

Còn với riêng Huyền Công Đạo, vị võ sư mà ông nể phục phải là người vẹn đức vẹn tài. Theo đại sư Trần Công, võ lâm Việt Nam đương đại, người ấy chính là hai lão võ sư Trần Tiến và Thanh Hư Chân nhân Đoàn Tâm Ảnh. Theo Huyền Công Đạo, tuy chỉ gặp gỡ một vài lần hiếm hoi nhưng tính cách, khả năng chuyên môn của hai đồng đạo trên đã khiến ông cảm phục. Giống như lão võ sư Trần Công, võ sư Nguyễn Văn Thắng, Chưởng môn phái Thăng Long võ đạo cũng vô cùng hâm mộ nghiệp võ của hai lão võ sư trên, đặc biệt là với quyền sư Đoàn Tâm Ảnh. Theo võ sư Văn Thắng thì danh tiếng, khả năng siêu phàm của lão võ sư giờ đã 107 tuổi ấy (Đoàn Tâm Ảnh) không chỉ người trong nước biết tới mà nhiều môn sinh của các môn phái khác trên thế giới đều xuýt xoa, nể phục khi nhắc tới tên. Đoàn Tâm Ảnh chính là một huyền thoại của làng võ Việt Nam.

Những “người kế thừa vĩ đại”

Võ thuật có tính kế thừa và phát triển. Từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, khi phong trào võ thuật được khôi phục, trên bầu trời vốn đã nhiều tinh tú ấy lại xuất hiện thêm những ngôi sao sáng chói. Những “ngôi sao” ấy không những kế thừa tinh thần thượng võ - “vốn liếng”, tinh hoa của thế hệ đi trước, mà còn đưa nền võ thuật nước nhà phát dương quang đại.

Võ sư Chu Há thuộc tuýp người khiêm tốn, rất ít khi đưa ra nhận xét về người khác. Tuy thế, khi đề cập đến vấn đề này, quan điểm cá nhân, với “thế hệ kế thừa” hiện nay, ông đã “tiến cử” hai võ sư, một của môn phái Vịnh Xuân, một của môn phái Võ lâm Phật gia.

Môn đồ của Vịnh Xuân, theo võ sư Chu Há, là võ sư Trịnh Quốc định, đệ tử của cố võ sư Trần Văn Phùng (một trong 5 học trò ưu tú nhất của võ sư Tế Công). Hiện tại, võ sư Định đang dạy Vịnh Xuân ở làng Ngọc Hà (Hà Nội).

Người thuộc môn phái Võ lâm Phật gia không ai khác là võ sư chưởng môn Băng Sơn (Bắc Phong Chân nhân). Theo võ sư Chu Há, những năm gần đây, môn phái của võ sư Băng Sơn đã “gặt hái” được nhiều thành công rực rỡ, thể hiện qua những tấm huy chương từ các lần “võ lâm đại hội”...

Võ học thâm như Đông Hải...

“Văn vô đệ nhất, võ vô đệ nhị”, đó là quan điểm của ông Trương Quang Trung, Phó Chủ tịch Liên đoàn võ thuật cổ truyền và cũng là quan điểm chung của tất cả các võ sư khi nói về anh tài làng võ. Bởi thế, rất khó có thể tìm ra trong số rất nhiều những ngôi sao sáng trên bầu trời võ thuật Việt Nam, ngôi sao nào sáng nhất.

Điều này, càng được khẳng định qua câu nói của sáng tổ Trương Tam Phong, Chưởng môn phái Võ Đang, một võ phái nổi tiếng ở Trung Quốc. Câu nói này đã được lão võ sư Nguyễn Tỵ, Chưởng môn phái Nam Hồng Sơn, một môn phái đang thu hút rất đông đệ tử hiện nay ghi nắn nót ngay trên... tường nhà mình: “Võ học thâm như Đông Hải - Siêu quần võ sĩ đa thi sa số hằng hà”. Nghĩa câu nói ấy, theo lão võ sư Nguyễn Tỵ thì võ học thâm sâu chẳng khác gì bể đông, anh tài thì đông đảo chẳng khác gì sao ở trên trời. Bởi thế, trong võ luôn có đạo, người học võ phải biết giữ lấy cái đạo của mình. Trong đạo ấy, thì điều đầu tiên là phải xóa bỏ cái tôi, không tự kiêu, tự phụ, coi thường người khác. Mình tài nhưng bể học bao la, ra ngoài xã hội chắc chắn có người tài giỏi hơn. Bởi thế, theo lão võ sư, viết câu đó lên tường, ngày ngày nhìn thấy thì mọi nơi, mọi lúc ông đều tự điều chỉnh tất cả những hành vi của bản thân mình.

Võ sư Văn Thắng có một kỷ niệm mà đến giờ, ông vẫn chẳng giây phút nào quên. Kỷ niệm ấy đã nhắc nhở ông rằng, trong thiên hạ, người tài là vô số kể. Cách đây cỡ độ chục năm, bởi chưa xây dựng được võ đường qui mô như bây giờ, ông phải dạy môn đồ của mình ở một sân chùa gần nhà. Tối nào cũng vậy, hễ khi những tiếng “hây ha” của buổi tập bắt đầu thì lại có một ông già không biết từ đâu ra khoảng sân ấy thảnh thơi hóng mát.

Một buổi, ngồi nhìn ông đi một bài quyền làm mẫu cho học trò, ông già kỳ lạ ấy đã đến bên nhẹ nhàng... góp ý. Theo ông lão thì võ sư Văn Thắng đi quyền quá chính xác, nhưng về cuối bài quyền, động tác cần mạnh và dứt khoát hơn, có vậy mới lộ rõ uy lực. Đó là những lời hoàn toàn chính xác.

Biết ông lão cũng chẳng phải “người thường”, võ sư Văn Thắng đã mời ông chỉ giáo thêm. Ngay tối đó, trước rất đông môn sinh của Thăng Long võ đạo, ông già kỳ lạ ấy đã đi liên tiếp mấy bài quyền, côn khiến mọi người được một phen... mở mắt. Biểu diễn xong, ông lịch sự cúi chào mọi người rồi vội vã rút lui, không để lại danh tính dù võ sư Văn Thắng đã nằng nặc hỏi. Các tối sau, dù đã cố tình chờ đợi, nhưng chẳng biết bởi lí do gì, ông lão ấy đã không trở lại thêm một lần nào nữa.

Ai là thiên hạ đệ nhất cao thủ võ Việt? “Đó người cả đời cống hiến, hi sinh cho võ thuật và hết mình với nền võ học nước nhà” (lời võ sư Trần Công). Từ quan điểm này, thì bất cứ người nào đam mê nghiệp võ, giương cao tinh thần võ đạo và xả thân vì nền võ học nước nhà thì đều xứng đáng được tôn vinh là những đệ nhất anh tài trong rừng võ Việt Nam

(theo giadinh.net)